|
|
| TƯ VẤN |
 Bồi thường thiêt hại khi đình công bất hợp pháp (17:42, 22/07/2008)
Hỏi: Gần đây xảy ra nhiều cuộc đình công trái luật xảy ra do cả hai bên NSDLĐ và NLĐ không thảo thuận được với nhau về mức lương và phụ cấp khi vật giá leo thang quá nhanh. Đề nghị luật gia cho biết, trường hợp tổ chức công đoàn, đại diện cho tập thể lao động (TTLĐ), người lao động (NLĐ) tham gia đình công gây thiệt hại cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong cuộc đình công bị Tòa án nhân dân tuyên bố là bất hợp pháp thì tổ chưc, cá nhân này có trách nhiệm bồi thường thiệt hại không?
|
 |
|
|
|
Luật gia Lê Văn Chấn trả lời: Theo điều 4 Nghị định số 11/2008/NĐ-CP ngày 30/01/2008 của Chính phủ: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại”
1. Tổ chức công đoàn cơ sở đã lãnh đạo cuộc đình công bị Tòa án nhân dân tuyên bố là bất hợp pháp, gây thiệt hại cho NSDLĐ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ.
2. Trong trường hợp cuộc đình công do đại diện TTLĐ lãnh đạo bị Tòa án tuyên bố là bất hợp pháp, gây thiệt hại thì những người được cử làm đại diện cho TTLĐ và những NLĐ tham gia đình công phải chịu trách nhiệm cá nhân theo phần trong việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ.
Yêu cầu bồi thường, thiệt hại:
1. NSDLĐ có quyền yêu cầu tổ chức công đoàn quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định này hoặc đại diện TTLĐ và NLĐ tham gia đình công quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định này phải bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp gây ra. Thời hạn yêu cầu là một năm, kể từ ngày quyết định của Tòa án về tính bất hợp pháp của cuộc đình công có hiệu lực.
2. Yêu cầu bồi thường thiệt hại được thể hiện bằng văn bản, bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a. Giá trị thiệt hại và các bằng chứng chứng minh giá trị thiệt hại;
b. Mức yêu cầu bồi thường;
c. Phương thức bồi thường;
d. Thời hạn thực hiện việc bồi thường.
3. Văn bản yêu cầu bồi thường thiệt hại và các tài liệu liên quan được gửi đến tổ chức công đoàn hoặc đại diện TTLĐ đã lãnh đạo cuộc đình công, đồng thời gửi đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn LĐ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi xảy ra cuộc đình công.
- Xác định thiệt hại để bồi thường (Điều 6 Nghị định này): Thiệt hại do cuộc đình công bất hợp pháp gây ra bao gồm tài sản của doanh nghiệp bị thiệt hại trực tiếp do việc ngừng sản xuất, kinh doanh vì lý do đình công. Trong trường hợp hai bên không nhất trí về giá trị thiệt hại thì có quyền yêu cầu tổ chức trung gian xác định giá trị thiệt hại. Chi phí xác định giá trị thiệt hại do bên yêu cầu thanh toán.
- Mức yêu cầu bồi thường thiệt hại: Được tính trên cơ sở xác định thiệt hại theo quy định tại Điều 6 Nghị định này. Mức bồi thường thiệt hại tối đa không vượt quá ba (03) tháng tiền lương, tiền công liền kề trước ngày đình công diễn ra theo hợp đồng LĐ của những NLĐ tham gia đình công.
- NSDLĐ có quyền đòi bồi thường thiệt hại trong trường hợp:
1. Phía đại diện NLĐ từ chối thương lượng;
2. Việc thương lượng không đạt hiệu quả;
3. Bên có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại không thực hiện đúng thỏa thuận cam kết về bồi thường thiệt hại.
|
 |
|
admin  |
|
 Thuế thu nhập ca sĩ (17:30, 22/07/2008)
Hỏi: Thưa luật gia tôi là ca sĩ, năm 2007 có các khoản thu nhập như sau:
- Kí hợp đồng làm việc dài hạn tại một công ty nhạc trẻ có thu nhập chịu thuế hàng tháng (bao gồm tiền lương, tiền thưởng… và các khoản thu nhập khác từ tham gia các chương trình của công ty là 8 triệu đồng).
- Tham gia chương trình ca nhạc cho một phòng trà với mức cát-xê là 4 triệu đồng.
- Ký hợp đồng quảng cáo với một hãng mỹ phẩm với mức chi trả là: 18 triệu đồng. Vậy xin hỏi luật gia cuối năm tôi phải đóng thuế như thế nào?
|
 |
|
|
|
Luật gia Lê Văn Chấn trả lời: Theo quy định tại Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 147/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, bà phải đóng thuế thu nhập cá nhân như sau:
Thu nhập được giảm trừ 25% khi xác định thu nhập chịu thuế. Khoản thu nhập chịu thuế của ca sĩ, nghệ sĩ… khi quyết toán thuế năm 2007 được áp dụng giảm trừ 25% để xác định thu nhập bình quân hàng tháng và áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối với công dân Việt Nam, áp dụng thuế suất đối với thu nhập thường xuyên.
Thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
Thu nhập từ hoạt động ca hát:
* Tổng thu nhập: (8 tr.đ x 12 tháng) + 4 tr.đ = 100 tr.đ
* 25% thu nhập được trừ trước khi tính thuế: 100tr.đ x 25% = 25tr.đ
* Thu nhập chịu thuế: 100tr.đ – 25tr.đ = 75tr.đ
Thu nhập từ hoạt động quảng cáo (thu nhập không được khấu trừ 25%): 18 tr.đ.
Tổng thu nhập chịu thuế năm 2007: 75tr.đ + 18tr.đ = 93tr.đ
Thu nhập chịu thuế bình quân tháng: 93tr.đ/12 tháng = 7,75 tr.đ.
Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp năm 2007 của bà được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần là:
(7,75tr.đ – 5tr.đ) x 10% x 12 tháng = 3,30tr.đ
Trường hợp các nơi chỉ trả thu nhập cho bà có khấu trừ 10% tiền thuế TNCN khi mỗi lần chi trả thì bà được trừ lại số tiền thuế phải nộp của năm 2007 (đính kèm biên lai thuế mỗi lần khấu trừ).
Bà đến cơ quan thuế điền vào tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (dùng cho cá nhân trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế). Kỳ tính thuế từ 01/01/2007 đến 31/12/2007 theo mẫu số 06A/TNCN ban hành theo Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007.
Bà phải kê khai kèm theo bảng kê khai thu nhập chịu thuế năm 2007 (ghi rõ chi tiết từng tháng). Sau khi nhận thông báo quyết toán thuế (theo kê khai) của cơ quan thuế, bà nộp thuế bằng tiền mặt hoặc bằng giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước bằng chuyển khoản. Ngày 31/3/2008 là hạn chót nộp tờ khai, quá hạn phải nộp thêm tiền nộp chậm 0,05% cho mỗi ngày nộp thuế
|
 |
|
admin  |
|
 Di chúc thừa kế tài sản giả (09:47, 09/07/2008)
Gia đình tôi có cho người trong họ ở nhờ tại nhà kho từ năm 1973 (người này bị bệnh mất trí phải ở bệnh viện Biên Hòa từ năm 1943 đến 1973 thì ông nội tôi rước về). Khi người này mất năm 1993, ông nội tôi đã đòi lại nhà và đất xung quanh nhưng những người con của người đã mất không trả mà còn đòi thừa kế từ người đã mất với lý do đã ở lâu.
Chúng tôi có đầy đủ di chúc được xác thực từ các đời trước để lại phần tài sản này trong phần tài sản liền kề hiện nay chúng tôi đang sống, và có trích lục địa bộ trước năm 1975 xác định phần đất này là của chúng tôi. Năm 2008 tôi xin trích lục lại địa bộ phần đất này thì Sở Tài nguyên - môi trường cấp chứng nhận phần đất này ba tôi đã kê khai (qua tất cả các chương trình đất từ năm 1980 đến nay) không phải do các con người đã mất kê khai (chúng tôi còn lưu biên lai thuế sử dụng đất phần đất bao gồm cả phần đang tranh chấp từ năm 1975 đến nay).
Để đối phó vời gia đình tôi, con của người đã mất đã ngụy tạo ra một tờ di chúc phụ bảo là của ông sơ tôi lập năm 1939 để sửa đổi phần di chúc ông sơ tôi đã lập cho ông cố tôi phần tài sản (nhà và đất) này được lập trong tờ di chúc thật năm 1931.
Chúng tôi đã kiện ra UBND xã và chuyển đến tòa án thị xã, sau đó tòa án tỉnh xét sơ thẩm. Nhưng trớ trêu thay HĐXX sơ thẩm lại công nhận nội dung trong tờ di chúc giả mà họ đã lập ghi năm 1939.
Xin hỏi tờ di chúc năm 1939 họ cung cấp là bản photo từ bản đánh máy không chữ ký người lập di chúc, không ai chứng thực, không ghi ngày tháng lập di chúc như vậy có hợp pháp không? Việc tờ di chúc giả này được công nhận nội dung gây thiệt hại tài sản cho chúng tôi, như vậy có thể truy cứu trách nhiệm hình sự người cung cấp chứng cứ giả và người công nhận, sử dụng chứng cứ giả không? Xin hỏi tôi phải tố cáo ở đâu và làm sao để đòi lại tài sản này?
(Nguyễn Phan)
|
 |
|
|
|
Luật sư Huỳnh Văn Nông trả lời: Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ điều kiện người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, nội dung và hình thức di chúc không trái qui định của pháp luật. Nếu là di chúc bằng văn bản thì phải ghi rõ: ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc trên từng trang…
Đối chiếu với những thông tin ông cung cấp, di chúc do ông sơ ông lập nói trên là di chúc không hợp pháp.
Trong quá trình xét xử các đương sự có quyền cung cấp các tài liệu, tòa án sẽ thẩm tra đánh giá các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự cung cấp hay do tòa thu thập. Nếu có chứng cứ cho rằng thẩm phán biết rõ tờ di chúc không hợp pháp mà vẫn cố ý ra bản án hay quyết định dựa trên tờ di chúc không hợp pháp đó thì đây là hành vi có dấu hiệu của tội phạm hình sự.
Ông có thể gửi đơn tố cáo kèm các chứng cứ đến chánh án Tòa án nhân dân nơi xét xử vụ án để tố cáo. (Đ652, 653, BLDS, Đ398, K1, Đ401, BLTTDS).
|
 |
|
admin  |
|
 Trích lục điền thổ bị rách, không làm được CNQSDĐ (11:17, 26/06/2008)
Thửa đất của tôi (diện tích 256m2) là đất chuyển nhượng từ 1/2 thửa đất vườn, thổ cư lâu đời (chủ đất hiện cũng đang ở 1/2 thửa bên cạnh). Tháng 5-1994, tôi làm thủ tục chuyển nhượng và đã lập hồ sơ xin cấp giấy CNQSDĐ, được UBND xã xác nhận đất đủ điều kiện trình lên cấp trên xem xét, nhưng do tờ trích lục bằng khoán điền thổ cũ bị rách nên chưa thực hiện việc chuyển nhượng được.
Hiện thửa đất không nằm trong các dự án qui hoạch và từ trước đến nay cũng không có tranh chấp, hằng năm tôi đều nộp thuế nhà và đất đầy đủ.
Vậy tôi có thể làm thủ tục chuyển nhượng được không hay phải xin cấp giấy CNQSDĐ mới? Thủ tục và tiền sử dụng đất như thế nào? Ngoài các khoản lệ phí, chi phí... thì có phải trường hợp này phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo đơn giá đất hiện hành?
(phanthanhloc1963@...)
|
 |
|
|
|
Luật sư Huỳnh Văn Nông trả lời: Do nhà, đất của ông đang ở có giấy tờ hợp lệ theo khoản 1 điều 50 Luật đất đai năm 2003, do vậy, ông có thể yêu cầu chủ cũ cùng ông đến phòng công chứng hoặc UBND quận (huyện) làm lại hợp đồng chuyển nhượng, sau đó làm thủ tục trước bạ tại chi cục thuế nơi có đất và đăng ký việc chuyển nhượng tại UBND quận (huyện) nơi có đất.
Trong trường hợp chủ cũ không hợp tác hoặc vì lý do khác ông có thể lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo khoản 2 điều 50 Luật đất đai năm 2003, ông có thể liên hệ với Phòng Tài nguyên - môi trường quận (huyện) nơi có đất để được hướng dẫn rõ hơn về thủ tục.
Cả hai trường hợp làm lại hợp đồng chuyển nhượng và xin cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khoản 2 điều 50 Luật đất đai ông đều không phải nộp tiền sử dụng đất, nếu ông không xin chuyển mục đích phần đất thổ vườn sang đất ở. |
 |
|
admin  |
|
 Giấy mua bán "tay" ký trước ngày 15-10-1993 (11:13, 26/06/2008)
Ông N.Đ bán nhà ở và đất cho ông Đ.K ngày 9-10-1991 (nhà đất chưa có giấy tờ, chưa được UBND xã ký xác nhận, đóng dấu trên giấy bán nhà đất). Sau đó ông Đ.K bán ngay nhà đất này cho gia đình tôi vào tháng 10-1991(không có giấy tờ mua bán nhưng có giao bản gốc giấy bán nhà của ông N.Đ và đã ký bản cam kết không tranh chấp vào tháng 2-2-2008).
Ngày 28-3-2008 tôi được UBND xã xác nhận đã nhận chuyển nhượng của ông Đ.K từ năm 1991.
Vậy giấy xác nhận của UBND có phải là giấy tờ hợp lệ theo Khoản 1 điều 50 Luật Đất đai không? Tôi có được cấp GCN QSDĐ không nếu hiện tại nhà đất của tôi đang nằm trong quy hoạch? Nếu được cấp GCN QSDĐ thì tôi phải đóng tiền sử dụng đất? Có được phép thực hiện quyền chuyển nhượng không?
(ngosyminh@...)
|
 |
|
|
|
Luật sư Huỳnh Văn Nông trả lời: Trước tiên tôi khẳng định rằng giấy xác nhận của UBND xã cấp cho ông không phải là các giấy tờ được nêu tại Khoản 1 điều 50 Luật Đất đai.
Theo như trình bày trên thì nhà đất của ông thuộc trường hợp sử dụng đất được quy định tại Khoản 4 điều 50 Luật Đất đai. Do vậy, ông có thể được cấp GCNQ SDĐ ở nếu phù hợp với quy hoạch.
Nếu nhà ở và đất ở của ông không phù hợp với quy hoạch hiện tại nhưng nhà ở của ông được tạo lập trước khi có quy hoạch hiện tại thì ông cũng được cấp GCN QSDĐ theo Khoản 2 điều 48 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.
Khi có GCN QSDĐ thì ông có quyền chuyển nhượng bất cứ lúc nào, pháp luật hiện hành không quy định không chế thời gian thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp. |
 |
|
admin  |
|
|
|